1. Khối 10
  2. Bài tập phát triển năng lực Ngữ văn 10 - Tập hai
  3. Bài 8 Văn bản nghị luận. Sửa lỗi về mạch lạc và liên kết trong văn bản. Viết bài văn nghị luận về một ý kiến bàn về văn học. Thảo luận về một vấn đề văn học có ý kiến khác nhau
  4. I. Thực hành đọc
  5. Đọc hiểu văn bản "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia"

  • Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu:
    HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ CỦA QUỐC GIA
    (Trích)
    THÂN NHÂN TRUNG
    1. […] Tôi dẫu nông cạn vụng về, nhưng đâu dám từ chối, xin kính cẩn chắp tay cúi đầu mà làm bài kí rằng:
    2. “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng. Đã yêu mến cho khoa danh, lại đề cao bằng tước trật. Ban ân rất lớn mà vẫn cho là chưa đủ. Lại nêu tên ở tháp Nhạn, ban danh hiệu Long hổ, bày tiệc Văn hỉ. Triều đình mừng được người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất.
    3. Nay thánh minh lại cho rằng, chuyện hay việc tốt tuy có một thời lừng lẫy, nhưng lời khen tiếng thơm chưa đủ lưu vẻ sáng lâu dài, cho nên lại dựng đá đề danh đặt ở cửa Hiền Quan, khiến cho kẻ sĩ trông vào mà phấn chấn hâm mộ, rèn luyện danh tiết, gắng sức giúp vua. Há chi là chuộng văn suông, ham tiếng hão mà thôi đâu.
    4. Ôi kẻ sĩ chốn trường ốc lều tranh, phận thật nhỏ mọn mà được triều đình đề cao rất mực như thế, thì họ phải làm thế nào để tự trọng tấm thân mà ra sức báo đáp?
    5. Hãy đem họ tên những người đỗ khoa này mà điểm lại. Có nhiều người đã đem văn học, chính sự ra tô điểm cho cảnh trị bình suốt mấy chục năm, được quốc gia tin dùng. Cũng không phải không có những kẻ vì nhận hối lộ mà hư hỏng, hoặc rơi vào hàng ngũ bọn gian ác, có lẽ vì lúc sống họ chưa được nhìn tấm bia này. Ví thử hồi đó được mắt thấy thì lòng thiện tràn đầy, ý xấu bị ngăn chặn, đâu còn dám nảy sinh như vậy được? Thế thì việc dựng tấm bia đá này lợi ích rất nhiều: kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà gắng, dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu, vừa để củng cố mệnh mạch cho nhà nước. Thánh thần đặt ra đâu phải vô dụng. Ai xem bia nên hiểu ý sâu này.
    (Ngữ văn 10 Nâng cao, tập hai, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr. 41 – 42)
    Em hiểu như thế nào về ý nghĩa nhan đề của văn bản?

    Đáp án

    Giải thích
    Ý nghĩa nhan đề văn bản "Hiền tài là nguyên khí quốc gia":
    – Người hiền tài là những người học rộng, tài cao, thông minh, sáng suốt. Đối với mỗi quốc gia, có thể coi đó là cái hạt nhân khí chất ban đầu làm nên sự sống còn và phát triển.
    – Người hiền tài có quan hệ lớn đến sự thịnh suy của mỗi quốc gia. Ở Trung Hoa ngày trước, vào thời Xuân Thu – Chiến Quốc rồi thời Tam Quốc phân tranh, các nước mạnh yếu khác nhau đều là nhờ vào việc trọng dụng nhân tài. Ở nước ta cả ngày trước và giờ đây cũng vậy, thời nào người hiền tài được trọng dụng, triều đại nào, chế độ nào được nhiều người hiền tài giúp sức thì phát triển ngày càng mạnh. Ngược lại, nếu đất nước thiếu đi những bậc hiền tài thì tất sẽ suy vong.
    1/1

  • Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu:
    HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ CỦA QUỐC GIA
    (Trích)
    THÂN NHÂN TRUNG
    1. […] Tôi dẫu nông cạn vụng về, nhưng đâu dám từ chối, xin kính cẩn chắp tay cúi đầu mà làm bài kí rằng:
    2. “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng. Đã yêu mến cho khoa danh, lại đề cao bằng tước trật. Ban ân rất lớn mà vẫn cho là chưa đủ. Lại nêu tên ở tháp Nhạn, ban danh hiệu Long hổ, bày tiệc Văn hỉ. Triều đình mừng được người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất.
    3. Nay thánh minh lại cho rằng, chuyện hay việc tốt tuy có một thời lừng lẫy, nhưng lời khen tiếng thơm chưa đủ lưu vẻ sáng lâu dài, cho nên lại dựng đá đề danh đặt ở cửa Hiền Quan, khiến cho kẻ sĩ trông vào mà phấn chấn hâm mộ, rèn luyện danh tiết, gắng sức giúp vua. Há chi là chuộng văn suông, ham tiếng hão mà thôi đâu.
    4. Ôi kẻ sĩ chốn trường ốc lều tranh, phận thật nhỏ mọn mà được triều đình đề cao rất mực như thế, thì họ phải làm thế nào để tự trọng tấm thân mà ra sức báo đáp?
    5. Hãy đem họ tên những người đỗ khoa này mà điểm lại. Có nhiều người đã đem văn học, chính sự ra tô điểm cho cảnh trị bình suốt mấy chục năm, được quốc gia tin dùng. Cũng không phải không có những kẻ vì nhận hối lộ mà hư hỏng, hoặc rơi vào hàng ngũ bọn gian ác, có lẽ vì lúc sống họ chưa được nhìn tấm bia này. Ví thử hồi đó được mắt thấy thì lòng thiện tràn đầy, ý xấu bị ngăn chặn, đâu còn dám nảy sinh như vậy được? Thế thì việc dựng tấm bia đá này lợi ích rất nhiều: kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà gắng, dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu, vừa để củng cố mệnh mạch cho nhà nước. Thánh thần đặt ra đâu phải vô dụng. Ai xem bia nên hiểu ý sâu này.
    (Ngữ văn 10 Nâng cao, tập hai, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr. 41 – 42)
    Trong bài viết, tác giả xuất hiện với những tư cách nào? Việc đó ảnh hưởng gì đến cách triển khai lập luận của văn bản?

    Đáp án

    Giải thích
    Trong bài viết, tác giả xuất hiện với 2 tư cách: tư cách của người truyền đạt ý chỉ của vua về một chủ trương lớn của nhà nước đối với các bậc hiền tài đỗ đạt tiến sĩ và tư cách của người trong cuộc (kẻ sĩ được trọng dụng). Với việc đóng vai trò ở hai tư cách khác nhau, tác giả đã có cơ hội lật trở các khía cạnh của vấn đề: Chính sách mới có ý nghĩa và thiết thực không? Có tạo thêm được động lực cho các bậc hiền sĩ không? Bậc hiền sĩ phải ứng xử như thế nào cho tương xứng với sự vinh danh của nhà nước? Bài viết, do đó mà có góc nhìn đa dạng, lời lẽ phù hợp, thuyết phục người nghe, người đọc.
    1/1

  • Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu:
    HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ CỦA QUỐC GIA
    (Trích)
    THÂN NHÂN TRUNG
    1. […] Tôi dẫu nông cạn vụng về, nhưng đâu dám từ chối, xin kính cẩn chắp tay cúi đầu mà làm bài kí rằng:
    2. “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng. Đã yêu mến cho khoa danh, lại đề cao bằng tước trật. Ban ân rất lớn mà vẫn cho là chưa đủ. Lại nêu tên ở tháp Nhạn, ban danh hiệu Long hổ, bày tiệc Văn hỉ. Triều đình mừng được người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất.
    3. Nay thánh minh lại cho rằng, chuyện hay việc tốt tuy có một thời lừng lẫy, nhưng lời khen tiếng thơm chưa đủ lưu vẻ sáng lâu dài, cho nên lại dựng đá đề danh đặt ở cửa Hiền Quan, khiến cho kẻ sĩ trông vào mà phấn chấn hâm mộ, rèn luyện danh tiết, gắng sức giúp vua. Há chi là chuộng văn suông, ham tiếng hão mà thôi đâu.
    4. Ôi kẻ sĩ chốn trường ốc lều tranh, phận thật nhỏ mọn mà được triều đình đề cao rất mực như thế, thì họ phải làm thế nào để tự trọng tấm thân mà ra sức báo đáp?
    5. Hãy đem họ tên những người đỗ khoa này mà điểm lại. Có nhiều người đã đem văn học, chính sự ra tô điểm cho cảnh trị bình suốt mấy chục năm, được quốc gia tin dùng. Cũng không phải không có những kẻ vì nhận hối lộ mà hư hỏng, hoặc rơi vào hàng ngũ bọn gian ác, có lẽ vì lúc sống họ chưa được nhìn tấm bia này. Ví thử hồi đó được mắt thấy thì lòng thiện tràn đầy, ý xấu bị ngăn chặn, đâu còn dám nảy sinh như vậy được? Thế thì việc dựng tấm bia đá này lợi ích rất nhiều: kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà gắng, dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu, vừa để củng cố mệnh mạch cho nhà nước. Thánh thần đặt ra đâu phải vô dụng. Ai xem bia nên hiểu ý sâu này.
    (Ngữ văn 10 Nâng cao, tập hai, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr. 41 – 42)
    Em hãy tóm tắt ý chính của bài Hiền tài là nguyên khí quốc gia (trích) trong khoảng 5 - 7 câu. Từ đó xác định luận đề của văn bản.

    Đáp án

    Giải thích
    a) Tham khảo đoạn tóm tắt văn bản sau:
    Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, là lẽ hưng vong của một nước. Vì thế các đấng minh quân đều trọng việc bồi dưỡng nhân tài, trọng việc ban ân cho kẻ sĩ. Triều đình mừng được người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất.
    Nay thánh minh vì nghĩ đến lâu dài mà cho dựng bia đá đề danh hòng khiến cho kẻ sĩ trông vào mà phấn chấn, gắng sức giúp vua để báo ân cho đất nước. Kẻ sĩ phu nhìn bia đá mà tự răn mình, vừa rèn giũa được tiếng thơm, vừa củng cố mệnh mạch cho quốc gia dân tộc.
    b) Luận đề của bài kí: Trình bày lí do dựng bia đá đề danh tiến sĩ.
    1/1

  • Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu:
    HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ CỦA QUỐC GIA
    (Trích)
    THÂN NHÂN TRUNG
    1. […] Tôi dẫu nông cạn vụng về, nhưng đâu dám từ chối, xin kính cẩn chắp tay cúi đầu mà làm bài kí rằng:
    2. “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng. Đã yêu mến cho khoa danh, lại đề cao bằng tước trật. Ban ân rất lớn mà vẫn cho là chưa đủ. Lại nêu tên ở tháp Nhạn, ban danh hiệu Long hổ, bày tiệc Văn hỉ. Triều đình mừng được người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất.
    3. Nay thánh minh lại cho rằng, chuyện hay việc tốt tuy có một thời lừng lẫy, nhưng lời khen tiếng thơm chưa đủ lưu vẻ sáng lâu dài, cho nên lại dựng đá đề danh đặt ở cửa Hiền Quan, khiến cho kẻ sĩ trông vào mà phấn chấn hâm mộ, rèn luyện danh tiết, gắng sức giúp vua. Há chi là chuộng văn suông, ham tiếng hão mà thôi đâu.
    4. Ôi kẻ sĩ chốn trường ốc lều tranh, phận thật nhỏ mọn mà được triều đình đề cao rất mực như thế, thì họ phải làm thế nào để tự trọng tấm thân mà ra sức báo đáp?
    5. Hãy đem họ tên những người đỗ khoa này mà điểm lại. Có nhiều người đã đem văn học, chính sự ra tô điểm cho cảnh trị bình suốt mấy chục năm, được quốc gia tin dùng. Cũng không phải không có những kẻ vì nhận hối lộ mà hư hỏng, hoặc rơi vào hàng ngũ bọn gian ác, có lẽ vì lúc sống họ chưa được nhìn tấm bia này. Ví thử hồi đó được mắt thấy thì lòng thiện tràn đầy, ý xấu bị ngăn chặn, đâu còn dám nảy sinh như vậy được? Thế thì việc dựng tấm bia đá này lợi ích rất nhiều: kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà gắng, dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu, vừa để củng cố mệnh mạch cho nhà nước. Thánh thần đặt ra đâu phải vô dụng. Ai xem bia nên hiểu ý sâu này.
    (Ngữ văn 10 Nâng cao, tập hai, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr. 41 – 42)
    Chỉ ra 2 đoạn văn đóng vai trò chính trong việc làm nổi bật luận đề của văn bản. Ý nghĩa của mỗi đoạn là gì?

    Đáp án

    Giải thích
    Hai đoạn văn đóng vai trò chính trong việc làm nổi bật chủ đề của văn bản (lí do dựng bia đá đề danh tiến sĩ) là đoạn 3 và đoạn 5.
    – Đoạn 3 nêu lí do trực tiếp của việc dựng bia đề danh tiến sĩ (để khuyến khích nhân tài, để lời khen, tiếng thơm được bền lâu, khiến cho kẻ sĩ trông vào mà phấn chấn hâm mộ, rèn luyện danh tiết, gắng sức giúp vua).
    – Đoạn 5 giải thích rõ hơn mục đích của việc dựng bia "đề danh tiến sĩ" ở Văn Miếu:
    + Noi gương hiền tài, ngăn ngừa điều ác, “kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà gắng”.
    + Làm cho đất nước hưng thịnh, bền vững dài lâu “dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu, vừa để củng cố mệnh mạch cho nhà nước”.
    1/1

  • Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu:
    HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ CỦA QUỐC GIA
    (Trích)
    THÂN NHÂN TRUNG
    1. […] Tôi dẫu nông cạn vụng về, nhưng đâu dám từ chối, xin kính cẩn chắp tay cúi đầu mà làm bài kí rằng:
    2. “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng. Đã yêu mến cho khoa danh, lại đề cao bằng tước trật. Ban ân rất lớn mà vẫn cho là chưa đủ. Lại nêu tên ở tháp Nhạn, ban danh hiệu Long hổ, bày tiệc Văn hỉ. Triều đình mừng được người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất.
    3. Nay thánh minh lại cho rằng, chuyện hay việc tốt tuy có một thời lừng lẫy, nhưng lời khen tiếng thơm chưa đủ lưu vẻ sáng lâu dài, cho nên lại dựng đá đề danh đặt ở cửa Hiền Quan, khiến cho kẻ sĩ trông vào mà phấn chấn hâm mộ, rèn luyện danh tiết, gắng sức giúp vua. Há chi là chuộng văn suông, ham tiếng hão mà thôi đâu.
    4. Ôi kẻ sĩ chốn trường ốc lều tranh, phận thật nhỏ mọn mà được triều đình đề cao rất mực như thế, thì họ phải làm thế nào để tự trọng tấm thân mà ra sức báo đáp?
    5. Hãy đem họ tên những người đỗ khoa này mà điểm lại. Có nhiều người đã đem văn học, chính sự ra tô điểm cho cảnh trị bình suốt mấy chục năm, được quốc gia tin dùng. Cũng không phải không có những kẻ vì nhận hối lộ mà hư hỏng, hoặc rơi vào hàng ngũ bọn gian ác, có lẽ vì lúc sống họ chưa được nhìn tấm bia này. Ví thử hồi đó được mắt thấy thì lòng thiện tràn đầy, ý xấu bị ngăn chặn, đâu còn dám nảy sinh như vậy được? Thế thì việc dựng tấm bia đá này lợi ích rất nhiều: kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà gắng, dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu, vừa để củng cố mệnh mạch cho nhà nước. Thánh thần đặt ra đâu phải vô dụng. Ai xem bia nên hiểu ý sâu này.
    (Ngữ văn 10 Nâng cao, tập hai, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr. 41 – 42)
    Nêu nhận xét ngắn gọn về nghệ thuật của bài Hiền tài là nguyên khí quốc gia (trích).

    Đáp án

    Giải thích
    Bài văn bia có lời lẽ trang trọng, tha thiết; lập luận chặt chẽ vừa thấu lí lại đạt tình. Vì
    vậy mà, bài văn có sức thuyết phục cao.
    1/1

  • Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu:
    HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ CỦA QUỐC GIA
    (Trích)
    THÂN NHÂN TRUNG
    1. […] Tôi dẫu nông cạn vụng về, nhưng đâu dám từ chối, xin kính cẩn chắp tay cúi đầu mà làm bài kí rằng:
    2. “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng. Đã yêu mến cho khoa danh, lại đề cao bằng tước trật. Ban ân rất lớn mà vẫn cho là chưa đủ. Lại nêu tên ở tháp Nhạn, ban danh hiệu Long hổ, bày tiệc Văn hỉ. Triều đình mừng được người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất.
    3. Nay thánh minh lại cho rằng, chuyện hay việc tốt tuy có một thời lừng lẫy, nhưng lời khen tiếng thơm chưa đủ lưu vẻ sáng lâu dài, cho nên lại dựng đá đề danh đặt ở cửa Hiền Quan, khiến cho kẻ sĩ trông vào mà phấn chấn hâm mộ, rèn luyện danh tiết, gắng sức giúp vua. Há chi là chuộng văn suông, ham tiếng hão mà thôi đâu.
    4. Ôi kẻ sĩ chốn trường ốc lều tranh, phận thật nhỏ mọn mà được triều đình đề cao rất mực như thế, thì họ phải làm thế nào để tự trọng tấm thân mà ra sức báo đáp?
    5. Hãy đem họ tên những người đỗ khoa này mà điểm lại. Có nhiều người đã đem văn học, chính sự ra tô điểm cho cảnh trị bình suốt mấy chục năm, được quốc gia tin dùng. Cũng không phải không có những kẻ vì nhận hối lộ mà hư hỏng, hoặc rơi vào hàng ngũ bọn gian ác, có lẽ vì lúc sống họ chưa được nhìn tấm bia này. Ví thử hồi đó được mắt thấy thì lòng thiện tràn đầy, ý xấu bị ngăn chặn, đâu còn dám nảy sinh như vậy được? Thế thì việc dựng tấm bia đá này lợi ích rất nhiều: kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà gắng, dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu, vừa để củng cố mệnh mạch cho nhà nước. Thánh thần đặt ra đâu phải vô dụng. Ai xem bia nên hiểu ý sâu này.
    (Ngữ văn 10 Nâng cao, tập hai, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr. 41 – 42)
    Xác định nội dung và vai trò từng phần của văn bản, từ đó nhận diện logic và trình tự triển khai luận điểm của tác giả Thân Nhân Trung.

    Đáp án

    Giải thích
    Nội dung từng phần của văn bản Hiền tài là nguyên khí quốc gia ngắn gọn, sáng rõ. Mỗi phần văn bản có một nhiệm vụ riêng nhưng được kết nối một cách logic chặt chẽ.
    – Phần 1: là lời mở đầu khiêm nhường của tác giả, đóng vai trò là một lời dẫn.
    – Phần 2: vai trò của người hiền tài đối với mỗi quốc gia và cách đối đãi với người tài của các đấng thánh đế minh quân trước đây.
    – Phần 3: nêu lí do trực tiếp của việc dựng bia đề danh tiến sĩ.
    – Phần 4: đóng vai trò như một lời ngỏ hướng đến những bậc tiến sĩ được đề danh – được triều đình đề cao như vậy, phải tự trọng tấm thân mà ra sức tận trung báo quốc.
    – Phần 5: ý nghĩa của việc dựng bia đề danh tiến sĩ (vừa để vinh danh nhưng cũng là để cho kẻ sĩ nhìn vào đó mà rèn giũa, giữ gìn phẩm giá, danh tiếng của mình mang đến những điều ích lợi cho đất nước).
    Trình tự triển khai luận điểm của văn bản hết sức chặt chẽ và thuyết phục, thể hiện sự sâu sắc và cẩn trọng của người viết: khởi đầu bằng việc nhấn mạnh vai trò của người hiền tài đối với đất nước; tiếp đến là cách ứng xử, đối đãi của triều đình với người tài xưa và nay (nhấn mạnh thời nay vai trò của người hiền tài được nâng thêm một bậc – ghi danh vào bia đá ngàn đời); từ đó tác động vào tâm lí, suy nghĩ của của người tài (cần nhìn vào cách đối đãi đó để phụng sự cho đất nước sao cho tương xứng); cuối cùng là kết lại ý nghĩa của việc dựng văn bia.
    1/1

  • Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu:
    HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ CỦA QUỐC GIA
    (Trích)
    THÂN NHÂN TRUNG
    1. […] Tôi dẫu nông cạn vụng về, nhưng đâu dám từ chối, xin kính cẩn chắp tay cúi đầu mà làm bài kí rằng:
    2. “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng. Đã yêu mến cho khoa danh, lại đề cao bằng tước trật. Ban ân rất lớn mà vẫn cho là chưa đủ. Lại nêu tên ở tháp Nhạn, ban danh hiệu Long hổ, bày tiệc Văn hỉ. Triều đình mừng được người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất.
    3. Nay thánh minh lại cho rằng, chuyện hay việc tốt tuy có một thời lừng lẫy, nhưng lời khen tiếng thơm chưa đủ lưu vẻ sáng lâu dài, cho nên lại dựng đá đề danh đặt ở cửa Hiền Quan, khiến cho kẻ sĩ trông vào mà phấn chấn hâm mộ, rèn luyện danh tiết, gắng sức giúp vua. Há chi là chuộng văn suông, ham tiếng hão mà thôi đâu.
    4. Ôi kẻ sĩ chốn trường ốc lều tranh, phận thật nhỏ mọn mà được triều đình đề cao rất mực như thế, thì họ phải làm thế nào để tự trọng tấm thân mà ra sức báo đáp?
    5. Hãy đem họ tên những người đỗ khoa này mà điểm lại. Có nhiều người đã đem văn học, chính sự ra tô điểm cho cảnh trị bình suốt mấy chục năm, được quốc gia tin dùng. Cũng không phải không có những kẻ vì nhận hối lộ mà hư hỏng, hoặc rơi vào hàng ngũ bọn gian ác, có lẽ vì lúc sống họ chưa được nhìn tấm bia này. Ví thử hồi đó được mắt thấy thì lòng thiện tràn đầy, ý xấu bị ngăn chặn, đâu còn dám nảy sinh như vậy được? Thế thì việc dựng tấm bia đá này lợi ích rất nhiều: kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà gắng, dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu, vừa để củng cố mệnh mạch cho nhà nước. Thánh thần đặt ra đâu phải vô dụng. Ai xem bia nên hiểu ý sâu này.
    (Ngữ văn 10 Nâng cao, tập hai, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr. 41 – 42)
    Theo em, bài văn bia này được tổ chức theo kiểu kết cấu nào? (tổng – phân – hợp, móc xích, song hành,...). Cách tổ chức đó đóng vai trò gì trong việc triển khai lập luận?

    Đáp án

    Giải thích
    Bài văn bia mở đầu bằng việc khẳng định vai trò "nguyên khí" của hiền tài đối với quốc gia, tiếp theo là kể và phân tích các chính sách của nhà nước đối với người hiền tài và kết thúc lại bằng việc khẳng định vai trò "củng cố mệnh mạch cho nhà nước", đây là lối kết cấu theo kiểu tổng – phân – hợp. Cách kết cấu này có tác dụng: vừa nhấn mạnh, lại vừa khắc sâu vai trò của nhân tài đối với đất nước. Thêm nữa, cách kết thúc như trên không chỉ là nhắc lại, mà còn nâng cao hơn cái chân lí đã được khẳng định ban đầu.
    1/1

hoclieuthongminh.com © 2022

  • Sitemap
  • Home
  • Home